Các trung tâm dữ liệu Thái Lan đối diện rủi ro từ tài nguyên điện nước

Thái Lan hiện có khoảng 42 trung tâm dữ liệu theo cơ chế cho thuê địa điểm đặt máy chủ (colocation), trong đó 37 đặt tại thủ đô Bangkok. Đồ họa: The Nation

Các trung tâm dữ liệu tiêu thụ một lượng điện và nước khổng lồ, và đây là bài toán mà hầu hết các quốc gia đều đang phải đối mặt. Chia sẻ với tờ Thansettakij, ông Kwanpadh Suddhi-Dhamakit, chuyên viên cấp cao của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Thái Lan, nói rằng tài nguyên nước và đầu tư trung tâm dữ liệu hiện là một thách thức lớn cho kinh tế Thái Lan, đặc biệt là giai đoạn hướng đến nền kinh tế công nghệ số.

Thiếu “điện xanh, nước mát”

Thái Lan không hề thiếu điện, mà thật sự khan hiếm “điện xanh”. Ước tính nhu cầu điện của ngành trung tâm dữ liệu sẽ vượt 6 TWh vào năm 2030 và lên tới 10 TWh vào năm 2037. Theo báo cáo từ Energy Tracker Asia vào đầu năm 2026, Thái Lan hiện dư thừa công suất phát điện dự phòng lên tới hơn 40%, nhưng lại có đến 85% nguồn điện phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.

Đây là điểm nghẽn lớn. Các gã khổng lồ công nghệ toàn cầu đều có cam kết khắt khe về phát thải ròng bằng 0 (net zero) và yêu cầu sử dụng 100% năng lượng tái tạo. Lưới điện quốc gia hiện tại vẫn chưa đủ khả năng cung cấp lượng điện sạch khổng lồ. Tình trạng này cũng làm giảm khả năng cạnh tranh vốn đầu tư công nghệ cao, chất lượng cao.

Bên cạnh đó là nhu cầu sử dụng nước cho các hệ thống làm mát máy chủ đang châm ngòi cho những lo ngại về môi trường và xã hội. Một phân tích của Mongabay vào năm 2026 chỉ ra rằng, chỉ riêng một trung tâm dữ liệu dự kiến đặt tại Hành lang Kinh tế phía Đông (EEC) đã cần tới 3,3 triệu mét khối nước mỗi năm – tương đương mức tiêu thụ của gần 37.000 hộ dân địa phương. Đáng nói, EEC lại là một trong những vùng nông nghiệp thường xuyên đối mặt với rủi ro hạn hán. Nước ngọt vốn hiếm hoi cho sinh hoạt và tưới tiêu nông nghiệp ở khu vực này. Nay phải chia sẻ nguồn nước quý giá cho hoạt động công nghiệp đã dấy lên những lo ngại và cả phản ứng từ các cộng đồng cư dân và nông dân. Áp lực này cũng là thách thức lớn, đòi hỏi một quy hoạch thủy lợi tổng thể và cân bằng lợi ích các bên.

Tư duy quy hoạch mới cho điện và nước

Thông qua Ủy ban Đầu tư Thái Lan (BOI), chính phủ đã đưa ra một bộ quy chuẩn mới nhằm “gỡ rối” cho các trung tâm dữ liệu và ngành điện nước.

Theo đó, các trung tâm dữ liệu chỉ được hưởng mức ưu đãi cao nhất (miễn thuế thu nhập doanh nghiệp lên đến 8 năm) nếu chứng minh được tỷ lệ “hiệu quả sử dụng điện” (PUE) tối ưu và thiết kế được hệ thống tái chế nước tuần hoàn khép kín, theo hãng tư vấn Tilleke & Gibbins. Đặc biệt, nhằm giải quyết cơn khát năng lượng tái tạo, BOI cùng Bộ Năng lượng đang gấp rút triển khai thỏa thuận mua bán điện trực tiếp (Direct PPA). Cơ chế này cho phép các tập đoàn công nghệ mua thẳng điện mặt trời hoặc điện gió từ các nhà sản xuất tư nhân mà không bị bó hẹp bởi các giới hạn của lưới điện truyền thống.

Trên bình diện quốc tế, tư duy về hạ tầng năng lượng cũng đang thay đổi nhằm gỡ khó cho nhu cầu điện tăng đột biến. Đơn cử như tại Mỹ, nước này đã đối mặt với bài toán tương tự và bắt đầu cân nhắc một hướng đi táo bạo: các trung tâm dữ liệu không nên chỉ thuần túy tiêu thụ, mà cần được trang bị cả công nghệ để tự sản xuất điện và bán ngược sản lượng dư thừa trở lại lưới điện quốc gia.

Tương tự như năng lượng, bài toán quản lý tài nguyên nước cho các trung tâm dữ liệu cũng đòi hỏi một quy hoạch linh hoạt để tận dụng cơ hội. Đứng từ góc độ này, ông Kwanpadh nhấn mạnh cốt lõi là làm sao ứng phó với những đợt nước đổ về quá lớn, đồng thời tích trữ đủ nước cho mùa khô. Lấy ví dụ tại Hat Yai – một khu vực thường xuyên ngập lụt. Nếu quy hoạch thủy lợi có thể dẫn dắt và lưu trữ lượng nước lũ khổng lồ này tại các khu vực dự kiến đặt trung tâm dữ liệu, Thái Lan sẽ giải quyết được “bài toán kép”: vừa chống ngập hiệu quả, vừa cung cấp đủ nước làm mát cho máy chủ. Thay vì xét riêng biệt theo hai hướng khác nhau, quản lý nước và đầu tư công nghệ lúc này sẽ bổ trợ trực tiếp cho nhau.

Tuy nhiên, sự kết hợp này lại mở ra một thách thức phức tạp về cơ chế định giá tài nguyên. Lâu nay, nguồn nước phục vụ nông nghiệp vốn được miễn phí và không thể tùy ý chuyển đổi mục đích sử dụng. Nếu tài nguyên này được phân bổ cho các trung tâm dữ liệu, mức phí áp dụng nên là bao nhiêu? Thái Lan hiện chưa có cơ chế định giá nào cho vấn đề này. Theo các chuyên gia, việc tính toán không thể chỉ dựa trên khối lượng nước tiêu thụ thuần túy, mà cần phải đưa cả những lợi ích kinh tế tổng thể mang lại vào chung một bài toán định giá.

Cần tận dụng triệt để lợi ích các trung tâm dữ liệu

Thái Lan hiện có khoảng 42 trung tâm dữ liệu theo cơ chế cho thuê địa điểm đặt máy chủ (colocation), trong đó 37 đặt tại thủ đô Bangkok. Tình trạng này gây áp lực lớn lên cơ sở hạ tầng điện và nước của thủ đô. Các cơ sở này chủ yếu thuộc quyền quản lý và vận hành của những công ty viễn thông lớn như AIS, NTT Global, STT GDC và True IDC.

Làn sóng đầu tư cho cơ sở hạ tầng số đang bùng nổ mạnh mẽ tại Thái Lan. Ủy ban Đầu tư Thái Lan (BOI) nói hàng chục tỉ đô la đã được rót cho lĩnh vực này trong những năm gần đây. Có thể kể các khoản đầu tư của các gã khổng lồ cho các trung tâm dữ liệu đám mây và AI. Chẳng hạn TikTok cam kết đầu tư 3,8 tỉ đô la hồi đầu năm 2026. Amazon Web Services (AWS) thỏa thuận đầu tư dài hạn lên đến 5 tỉ đô la. Google và Microsoft đều đã công bố các khoản rót vốn hơn 1 tỉ đô la.

Các trung tâm dữ liệu đang tiêu hao lượng lớn nguồn tài nguyên. Liệu có hợp lý khi áp giá điện cao hơn với các trung tâm này? Và câu hỏi lớn hơn là liệu các trung tâm dữ liệu sẽ giúp Thái Lan chuyển đổi sang nền kinh tế số như thế nào, với internet, dữ liệu và đổi mới sáng tạo là cốt lõi của kinh doanh, sản xuất, dịch vụ và đời sống? Hoặc liệu khoản đầu tư này có mang lại giá trị gia tăng cho các lĩnh vực khác của nền kinh tế hay không?

Nếu đáp ứng được yếu tố đó, việc đầu tư vào trung tâm dữ liệu có thể được xem là mang lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế. Khi đó, các khoản chi phí bỏ ra sẽ lan tỏa giá trị và tạo ra hiệu ứng cộng hưởng (spillover effect). Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, Thái Lan có lẽ vẫn chưa thể tận dụng triệt để những lợi ích kinh tế từ các trung tâm dữ liệu này. Do đó, các nhà hoạch định chi phí cung cấp năng lượng phải cân nhắc kỹ vấn đề này, bởi vì những lợi ích kinh tế lan tỏa hay cộng hưởng chưa thể được đưa vào bài toán tính toán chi phí hiện tại.

Ông Kwanpadh nhận định rằng, bối cảnh này mở ra những giải pháp thiết thực, chẳng hạn như đẩy nhanh tốc độ mở rộng nền kinh tế số để lợi nhuận sinh ra được phân bổ rộng rãi hơn trong xã hội, thay vì chỉ tập trung vào một nhóm cục bộ. Khi tính toán chi phí năng lượng, cần phải nhìn nhận một thực tế rằng Thái Lan vẫn chưa thể đưa trọn vẹn những lợi ích kinh tế lan tỏa này vào phương trình kinh tế chung.

Ricky Hồ / BSA Media