Từ một cây thạch đen từng có lúc phải chặt bỏ vì không tìm được đầu ra, cây cúc tần mọc hoang, giống chè bản địa, ba kích tím cho đến quả còn của người Cao Lan, vòng bán kết cuộc thi Khởi nghiệp Xanh tại bảng A cho thấy một lát cắt đặc biệt của hành trình khởi nghiệp. Ở đó, những nguồn tài nguyên tưởng như rất bình thường đang được người trẻ tìm cách đánh thức bằng tư duy thị trường, công nghệ và câu chuyện văn hóa. Nhưng sau những ý tưởng giàu cảm hứng, câu hỏi mà các dự án không thể né tránh vẫn là, làm thế nào để những giá trị ấy không chỉ “xanh” trên ý tưởng mà thực sự sống được trên thị trường?
Ba năm trở lại với cây thạch đen
Chiều 5/9, vòng bán kết cuộc thi Khởi nghiệp Xanh diễn ra với các dự án thuộc bảng A. Một trong những dự án gây chú ý là “Lương Phấn Thảo – Nâng tầm sinh kế vùng cao”, do nhóm khởi nghiệp Thạch đen thuộc HTX Nông sản sạch Tràng Định, Lạng Sơn thực hiện, đại diện là Hoàng Trung Nghĩa. Đây là lần thứ ba trong ba năm liên tiếp nhóm trở lại cuộc thi, vẫn với cây thạch đen Lạng Sơn.
Từ cây thạch đen vốn quen thuộc trong những món ăn, thức uống dân dã, nhóm phát triển thành hệ sản phẩm gồm trà thạch đen túi lọc, trà hòa tan, thạch ăn liền, nước thạch đen, siro và kẹo dẻo. Trong đó, trà thạch đen túi lọc đã hoàn thiện và được đưa ra thị trường; các sản phẩm còn lại tiếp tục được nghiên cứu, phát triển.
Phía sau những sản phẩm ấy là một câu chuyện về sinh kế. Trong thời gian công tác tại một xã vùng biên giới, Hoàng Trung Nghĩa từng chứng kiến người dân trồng thạch đen nhưng không bán được. Có hộ trồng đến hàng tạ rồi cuối cùng phải bỏ đi vì không tìm được đầu ra. Vì thế, dự án lựa chọn cách tiếp cận từ vùng nguyên liệu đến thị trường, liên kết với nông dân, bao tiêu nguyên liệu, chế biến, xây dựng thương hiệu và tìm kiếm đầu ra. Dự án cũng hướng tới tận dụng bã thạch đen làm phân hữu cơ, giảm sử dụng nhựa, phát triển vùng nguyên liệu theo hướng xanh và tăng khả năng truy xuất nguồn gốc thông qua mã QR code.
Trên sân khấu, giám khảo Trần Vũ Nguyên – Chủ tịch Hội đồng quản trị Ai Education Group, ghi nhận một lợi thế rất trực quan của sản phẩm, rằng “ăn thử thấy ngon”. Nhưng ngay sau đó là những câu hỏi khó hơn. Nhóm đang hướng tới nhiều nhóm khách hàng, từ nhân viên văn phòng, giới trẻ, gia đình, du khách đến quán cà phê, nhà hàng. Tuy nhiên, khi chân dung khách hàng quá rộng, dự án sẽ khó xác định nhóm ưu tiên và xây dựng chiến lược tiếp cận hiệu quả. Bài toán giá cũng được đặt lên bàn cân. Giá vốn và giá bán có thể tạo cảm giác sản phẩm có lợi nhuận, nhưng khi cộng thêm chiết khấu đại lý, quảng cáo, vận chuyển và chi phí bán hàng, biên lợi nhuận thực tế còn lại bao nhiêu là câu hỏi cần được tính toán kỹ nếu muốn mở rộng thị trường.
Giám khảo Trần Thị Thanh Bình – Giám đốc Trung tâm Nông nghiệp hữu cơ, Viện Quản lý đất đai và Phát triển nông thôn, Đại học Lâm nghiệp nhìn thấy lợi thế khác biệt nằm ngay tại vùng nguyên liệu. Nếu thạch đen Lạng Sơn được xây dựng thành vùng nguyên liệu có tiêu chuẩn rõ ràng, kiểm soát quy trình sản xuất, hạn chế hóa chất và tiến tới những tiêu chuẩn như hữu cơ hoặc VietGAP, đó có thể trở thành tài sản thương hiệu mà không phải sản phẩm nào cũng có. Trong khi đó, giám khảo Nguyễn Tiến Trung và Trần Trí Dũng đánh giá cao sự kiên trì của nhóm. Nhiều năm liên tiếp theo đuổi cùng một loại cây, năm trước chưa hoàn thiện thì năm sau tiếp tục cải tiến, đồng thời hỗ trợ và cố vấn cho những người trẻ khác, đó là “sức bền” không dễ có trong hành trình khởi nghiệp.
Nhưng nếu khách hàng trẻ đang uống trà sữa, xem TikTok và mua hàng trên các nền tảng thương mại điện tử, thạch đen phải tìm được cách bước vào những không gian tiêu dùng đó.

Khi “phòng thí nghiệm” cần trở thành doanh nghiệp
Trong khi đó, dự án PLUCHEA – Sống xanh từ thảo dược lại cho thấy năng lượng táo bạo của những người trẻ đang ở độ tuổi học sinh. Dự án do ba học sinh Trường THPT chuyên Chu Văn An, Lạng Sơn thực hiện, gồm Dương Ngọc Lan, Đào Hà Triệu Vi và Hoàng Minh Đức. Nguyên liệu được nhóm lựa chọn là cây cúc tần, một loại cây bản địa dễ trồng, hiện phần lớn vẫn mọc hoang và chưa được khai thác tương xứng.
Từ đây, nhóm phát triển hàng loạt sản phẩm, trà túi lọc, tinh dầu, cao lỏng, viên nén, kẹo trị ho, xịt miệng khử khuẩn, nước rửa tay, lá xông; đồng thời nghiên cứu thêm dầu gội, nước giặt, nước lau sàn, kem đánh răng và phân bón sinh học. Nhưng ban giám khảo cho rằng, nhóm đang có quá nhiều hướng phát triển nhưng chưa có một sản phẩm đủ mạnh để làm mũi nhọn.
Giám khảo Nguyễn Tiến Trung – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Khởi nghiệp Quốc gia (NSCI), nhận xét rằng, phần trình bày đôi lúc giống một “phòng thí nghiệm” hơn là một dự án khởi nghiệp. Khi nguồn lực còn hạn chế, việc cùng lúc theo đuổi quá nhiều sản phẩm có thể khiến vốn, nhân lực và thời gian bị chia nhỏ. Thay vì đưa hàng loạt sản phẩm ra thị trường, dự án cần chọn một hoặc hai sản phẩm có lợi thế nhất, kiểm chứng nhu cầu, xác định khách hàng và xây dựng doanh thu trước khi mở rộng.
Giám khảo Hoàng Sơn Công – Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ khởi nghiệp và Chuyển giao công nghệ ngành bán lẻ Việt Nam, lưu ý câu chuyện pháp lý và thị trường đối với các sản phẩm sử dụng đường uống từ cúc tần. Nhóm có thể cân nhắc những sản phẩm sử dụng ngoài da như dầu gội, chăm sóc cá nhân hoặc các sản phẩm tiện dụng khác để thử nghiệm thị trường. Thậm chí, mô hình kinh doanh không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc bán sản phẩm. Nhóm có thể bán nguyên liệu, công thức, tổ chức workshop trải nghiệm hoặc hướng dẫn khách hàng tự làm sản phẩm từ cúc tần. Khi đó, giá trị không chỉ nằm trong một gói trà hay chai tinh dầu mà còn ở trải nghiệm và kiến thức mà nhóm sở hữu.
Còn ở dự án “Thổ Dược Kỳ Thượng – Hệ sinh thái dược liệu xanh từ ba kích tím bản địa” của HTX Bảo tồn và Phát triển dược liệu Kỳ Thượng, Quảng Ninh. Dự án đã xây dựng vùng nguyên liệu ba kích tím, phát triển ba kích khô, rượu ba kích hạ thổ, hộp quà và các sản phẩm liên quan. Tuy nhiên, nếu đã có vùng nguyên liệu lớn mà doanh thu vẫn thấp, câu hỏi đặt ra là tại sao phải chờ nhiều năm đến khi cây đủ tuổi mới bắt đầu tạo dòng tiền? Một hướng đi được gợi mở là bán nguyên liệu tươi, nguyên liệu khô, bộ nguyên liệu kèm hướng dẫn tự ngâm tại nhà; trong khi rượu ngâm sẵn được định vị như sản phẩm cao cấp, giới hạn. Cách tiếp cận này giúp doanh nghiệp tạo doanh thu từ nhiều giai đoạn của chuỗi giá trị thay vì chỉ chờ sản phẩm cuối cùng.
Ở chiều ngược lại, dự án “Đa dạng hóa sản phẩm từ chè Gay”, của Công ty Cổ phần Lam Hương Trà, do Lê Thảo My sáng lập, cho thấy cách một nguồn nguyên liệu bản địa có thể được phát triển thành hệ sinh thái sản phẩm và trải nghiệm. Cùng một giống chè, dự án phát triển thành lục trà, hồng trà, bạch trà; đồng thời kết hợp Tea Tour và workshop làm trà. Trong bảy tháng đầu năm 2026, dự án ghi nhận doanh thu 269 triệu đồng, với hơn 100 khách hàng trả tiền và tỷ lệ khách tái mua khoảng 80% trong ba tháng gần nhất. Những con số này cho thấy câu chuyện bản địa chỉ thực sự trở thành lợi thế thương mại khi có người sẵn sàng trả tiền, quay lại mua và tiếp tục sử dụng sản phẩm.
Cô gái Cao Lan 18 tuổi và hành trình đưa quả còn ra khỏi lễ hội


Còn với dự án “Mũi khâu vó còn – Tái sinh sợi nhớ” của Nguyễn Thị Thương, cô gái 18 tuổi người Cao Lan đến từ Phú Thọ. Thương vừa bước vào năm nhất Học viện Hành chính và Quản trị công. Thương mang đến sân khấu không phải công nghệ phức tạp hay một sản phẩm được đầu tư quy mô lớn, mà là quả còn, món đồ chơi dân gian gắn với văn hóa Cao Lan.
Quả còn trong dự án của Thương là món đồ hoàn thiện để mua về trưng bày. Nó được biến thành một bộ kit thủ công để người mua tự tay khâu nên sản phẩm. Bộ kit gồm vải tái chế, dây treo, kim chỉ, các loại hạt nông sản và hướng dẫn thao tác thông qua mã QR code. Người mua, vì thế, không chỉ mua một quả còn mà mua một trải nghiệm và được tiếp cận với câu chuyện văn hóa phía sau sản phẩm.
Thương đến cuộc thi cùng bà nội – Trần Thị Vĩnh một người phụ nữ dân tộc Cao Lan (đi theo hỗ trợ), bà nói rằng, các xưởng may tại địa phương mỗi năm tạo ra lượng lớn vải vụn chưa có đầu ra phù hợp. Nên Thương muốn tái sinh những mảnh vải này thành vật liệu cho bộ kit, đồng thời hướng tới tạo sinh kế cho khoảng 15-20 phụ nữ Cao Lan trong thời gian nông nhàn.
“18 tuổi mà xịn như vậy” – giám khảo Trần Vũ Nguyên nhận xét. Còn giám khảo Nguyễn Tiến Trung cũng đánh giá cao tư duy làm dự án, cách kể chuyện và năng lượng của Thương, cho rằng những gì cô gái trẻ thể hiện vượt xa kỳ vọng thông thường ở một sinh viên mới bước vào đại học.
Thương kể về ý nghĩa của quả còn bằng sự hiểu biết của một người sinh ra trong cộng đồng. Bốn góc quả còn tượng trưng cho bốn phương trời; những hạt nông sản bên trong (các loại đậu, mè…) gửi gắm ước nguyện về mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa. Tung quả còn lên là gửi đi điều xui rủi, đón lại là đón những điều may mắn. Đó là thứ tài sản mà không một chiến dịch marketing nào có thể tạo ra từ con số 0. Đó là một câu chuyện đã tồn tại trong đời sống cộng đồng qua nhiều thế hệ người Cao Lan.
Hai thế hệ Thương – bà nội cùng đứng trong một câu chuyện, mong truyền tải ký ức văn hóa, đưa nó bước vào đời sống hiện đại. Từ quả còn trong những lễ hội truyền thống đến TikTok Shop và workshop trong trường học.
Ban giám khảo cũng nhìn thấy cơ hội ở thị trường quốc tế. Nếu một bộ kit có giá khoảng 195.000 đồng có thể được xem là tương đối cao với một số khách hàng trong nước, thì mức giá tương đương vài USD lại có thể phù hợp với khách du lịch hoặc người nước ngoài yêu thích sản phẩm thủ công và văn hóa bản địa. Giám khảo Trần Vũ Nguyên gợi ý dự án không chỉ dừng ở Facebook mà cần nghiên cứu sâu hơn về bán hàng trực tiếp trên TikTok Shop, đồng thời hợp tác với những người trẻ có kinh nghiệm thương mại điện tử. Giám khảo Hoàng Sơn Công cho rằng câu chuyện sản phẩm nên tập trung vào tín ngưỡng, sự may mắn, mùa màng và những lời chúc tốt đẹp được gửi gắm trong quả còn, thay vì đi quá sâu vào yếu tố tâm linh. Đây có thể là chìa khóa để một sản phẩm văn hóa bước ra khỏi phạm vi cộng đồng mà vẫn giữ được bản sắc.
Từ vùng dược liệu đến làng gốm
Bảng A cũng cho thấy khái niệm khởi nghiệp xanh đang mở rộng sang công nghệ, quản trị và kinh tế tuần hoàn. Như dự án “Sankit – Hệ điều hành chất lượng số cho vùng trồng dược liệu” là một ví dụ. Dự án do Lê Hoàng Ngọc Xê Ri làm chủ, hướng tới số hóa việc quản lý vùng trồng, biến những nhật ký sản xuất rời rạc thành dữ liệu có thể kiểm chứng. Sankit sử dụng ứng dụng di động cho nông dân và nền tảng web cho doanh nghiệp, tích hợp QR, GPS, dấu thời gian, dữ liệu lô trồng và hồ sơ phục vụ chứng nhận. Đáng chú ý Xê Ri là sinh viên Y học cổ truyền và đã tự bỏ tiền kiếm được từ việc gia sư, nấu ăn thuê để đầu tư khoảng 40 triệu đồng cho dự án.
Sankit hướng tới giải quyết một vấn đề cụ thể của doanh nghiệp dược liệu: mất nhiều thời gian để tập hợp hồ sơ phục vụ Organic, GACP và các tiêu chuẩn liên quan. Mục tiêu không chỉ là tạo một phần mềm ghi nhật ký mà là biến dữ liệu sản xuất thành bằng chứng về chất lượng.
Tuy nhiên, câu hỏi của giám khảo Nguyễn Tiến Trung vẫn rất rõ ràng, 300-500 doanh nghiệp và HTX mà Sankit hướng tới thực sự “đau” ở đâu và tại sao họ phải trả tiền cho giải pháp này? Đó chính là ranh giới giữa một sản phẩm công nghệ và một startup. Một ứng dụng có thể hoạt động tốt về mặt kỹ thuật nhưng nếu khách hàng không thấy lý do đủ lớn để trả tiền, mô hình kinh doanh vẫn chưa hoàn thiện.
Ở một dự án khác là “Gốm Ngọc – Gốm sành Phù Lãng” đã đưa câu chuyện làng nghề vào mô hình kết hợp sản xuất với du lịch trải nghiệm. Dự án khai thác giá trị gốm Phù Lãng, phát triển sản phẩm gốm xanh và các chương trình workshop. Mô hình này cho thấy các làng nghề không nhất thiết phải cạnh tranh bằng việc sản xuất càng nhiều sản phẩm càng tốt, giá trị còn có thể nằm ở trải nghiệm, câu chuyện, không gian và khả năng để khách hàng trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm.
Trong khi đó, dự án “ARC-V – Công nghệ xử lý chất thải rắn không đốt, không chôn” tiếp cận một bài toán lớn hơn: xử lý rác sinh hoạt theo hướng kinh tế tuần hoàn, kết hợp phân loại cơ học, xử lý sinh học bằng ấu trùng ruồi lính đen và nhiệt phân để tạo ra các sản phẩm đầu ra.
Tuy nhiên các thành viên ban giám khảo cho rằng, khi nhà máy thực tế chưa vận hành tại Việt Nam, những con số về doanh thu, lợi nhuận hay hiệu quả cần tiếp tục được chứng minh bằng thực tiễn. Các vấn đề về cấp phép cũng như khả năng xử lý rác sinh hoạt hỗn hợp là những bài toán phức tạp, khác đáng kể so với xử lý nguồn rác hữu cơ đã được phân loại.
Một dự án do nhóm giáo viên Trường THPT chuyên Chu Văn An, Lạng Sơn mang đến là “Sản phẩm từ dền gai CVA AS” tiếp tục tìm cách gia tăng giá trị cho một nguyên liệu quen thuộc thông qua trà cây dền gai và nước tắm dền gai. Dù gặp sự cố khi kho hàng bị ảnh hưởng bởi đợt mưa lũ, dự án vẫn cho thấy nỗ lực đưa cây bản địa thành sản phẩm có giá trị gia tăng.
Một số hình ảnh tại ngày thi của các dự án bảng A:


































